truyện kể về Bác Hồ những chặng đường kháng chiến

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Vân
Ngày gửi: 10h:16' 15-04-2024
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Vân
Ngày gửi: 10h:16' 15-04-2024
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
TRUYỆN KỂ
VỀ BÁC HỒ
NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG
TRƯỜNG KỲ KHÁNG CHIẾN
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
PGS.TS. NGUYỄN THẾ KỶ
Phó Chủ tịch Hội đồng
TS. HOÀNG PHONG HÀ
Thành viên
TRẦN QUỐC DÂN
TS. NGUYỄN ĐỨC TÀI
TS. NGUYỄN AN TIÊM
NGUYỄN VŨ THANH HẢO
VŨ KỲ
TRUYỆN KỂ
VỀ BÁC HỒ
NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG
TRƯỜNG KỲ KHÁNG CHIẾN
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
HÀ NỘI - 2015
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài của
dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới, là
người Việt Nam đầu tiên vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước,
đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác. Người có một cuộc sống và hoạt động
thực tiễn hết sức đa dạng, phong phú và sôi động, gắn
liền với một thời kỳ lịch sử trên nửa thế kỷ của cách
mạng Việt Nam. Đi nhiều nơi, làm nhiều công việc,
đảm nhận nhiều cương vị trong những điều kiện,
hoàn cảnh khác nhau đã đem lại cho Người vốn sống,
kinh nghiệm và hiểu biết phong phú trên nhiều mặt.
Sách báo trong và ngoài nước đã viết nhiều về Người.
Nhưng như một chính khách nước ngoài đã nói, Người
là một vĩ nhân mà chỉ có thể so được với chính bản
thân mình. Cho nên dù sách báo đã viết nhiều vẫn
chưa thể nói hết được cuộc đời hoạt động cách mạng
phong phú của Người.
Để giúp bạn đọc có thêm tài liệu nghiên cứu về tư
tưởng và cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản
5
cuốn sách Truyện kể về Bác Hồ - Những chặng đường
trường kỳ kháng chiến (Xuất bản lần thứ hai).
Cuốn sách do đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ
kể (trong thời gian từ Cách mạng Tháng Tám năm
1945 đến năm 1948), Huyền Tím và Tử Nên ghi, và
được xuất bản lần đầu năm 2001. Đây là những mẩu
chuyện ngắn về Bác Hồ còn ít người biết.
Hy vọng cuốn sách nhỏ này sẽ giúp bạn đọc có
thêm những thông tin quý báu và hiểu thêm về cuộc
đời hoạt động của Bác Hồ.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 6 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
6
LỜI GIỚI THIỆU
Chúng tôi đến gặp đồng chí Vũ Kỳ để tìm hiểu
về những mẩu chuyện ít người biết về Bác Hồ.
Đồng chí ra mở cửa cho chúng tôi, cười và nói vui:
"Bác Hồ ra đi đã hơn 30 năm rồi, làm gì có chuyện
mới nữa. Để chiều lòng các phóng viên tôi sẽ kể
những mẩu chuyện về Bác, nhưng phải đợi tôi
được gặp Bác đã". Và rồi đồng chí đã tâm tình kể
cho chúng tôi nghe những mẩu chuyện ít người
biết về Bác Hồ, trong nhiều buổi cùng làm việc rất
thân mật.
Chúng tôi cố gắng ghi chép và sắp xếp những
mẩu chuyện này thành 10 phần theo thứ tự thời
gian từ năm 1945 đến năm 1948:
- Tháng 8 năm 1945 ở Hà Nội;
- Những ngày làm việc sau khi đọc Tuyên
ngôn Độc lập;
- Mùa xuân năm 1946;
- Năm 1946, năm ngàn cân treo sợi tóc;
- Những ngày đầu trường kỳ kháng chiến;
- Tết kháng chiến đầu tiên;
7
- Những ngày kỷ niệm thành lập Đảng;
- Hành trình từ chùa Một Mái đến Việt Bắc;
- Tiếp tục những chặng đường trường kỳ
kháng chiến;
- Mong muốn của Bác Hồ khi nước nhà thống
nhất.
Chúng tôi hy vọng rằng những mẩu chuyện
này sẽ giúp bạn đọc hiểu biết hơn về cuộc đời hoạt
động cách mạng phong phú của Bác Hồ.
Huyền Tím và Tử Nên
8
THÁNG 8 NĂM 1945 Ở HÀ NỘI
Năm 1940, ba cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam
Kỳ và Đô Lương bùng nổ chống thực dân Pháp,
nhưng đều đi đến thất bại. Trong thời gian này
cũng bắt đầu cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai.
Thực dân Pháp tham chiến, phút chốc đầu
hàng phát xít Đức. Liên Xô phải gánh chịu hậu
quả nặng nề nhất trong cuộc chiến tranh chống
phát xít. Những năm đầu, Lêningrát bị bao vây,
Xtalingrát và nhiều thành phố khác bị giặc phá
tan tành. Phía bên này, phát xít Nhật xâm chiếm
Đông Dương. Đất nước ta trong tình hình cấp
bách đòi hỏi sự nhạy bén với tình thế và nắm bắt
đúng thời cơ.
Đầu năm 1941, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh
đạo cách mạng. Sau này, được Bác giải thích, Bác
quyết định về nước vào thời điểm đó là do thấy
trước được triển vọng của tình hình khi phát xít
Đức thất bại, Chiến tranh thế giới thứ hai kết
thúc là thời cơ có một không hai cho Việt Nam
giành chính quyền. Đấy chính là thời cơ mà người
lãnh đạo cách mạng phải biết tranh thủ nắm lấy.
9
Về Pác Bó vào dịp Tết Tân Tỵ, Bác sống và
làm việc tại hang Cốc Bó (làng Pác Bó, Trường
Hà, Quảng Hà, Cao Bằng). Tại đây, Bác đã ra
báo Việt Nam Độc Lập và ngay trong những số
đầu tiên, Bác đã viết bài về lịch sử Việt Nam
(bằng thơ lục bát). Dưới bài thơ có chú thích:
Năm 1945 cách mạng Việt Nam thành công, và
điều tiên đoán kỳ diệu ấy của Bác đã thành hiện
thực. Ở Pác Bó, sau những buổi làm việc căng
thẳng, Bác thường dành những giây phút thảnh
thơi ngắm cảnh thiên nhiên và đặt tên suối
Lênin và núi Các Mác. Xuân Tân Tỵ, hoa mận
trắng và đào phớt nở đầy hai bên đường, bên
dòng suối. Nhớ về C. Mác - người thầy của cách
mạng vô sản, Bác đã tỉ mỉ tạc tượng C. Mác trên
khối nhũ đá ngay trong hang Cốc Bó này. Dòng
chữ nho ghi dưới bức tượng "Năm 1941 tháng 2
ngày 8" là ngày Bác hoàn thành bức tượng1. Từ
Pác Bó (Cao Bằng) Bác chuyển về Tân Trào
(Tuyên Quang). Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Hà
Nội khởi nghĩa giành chính quyền, rồi lần lượt
đến các tỉnh khác trong cả nước. Cuối tháng 8
năm 1945, Thường vụ Trung ương quyết định
_____________
1. Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2006, t.2, tr.134, ghi như sau: Tháng 2,
ngày 8: Nguyễn Ái Quốc đến ở hang Cốc Bó với bí danh
Già Thu (BT).
10
đưa Bác về Thủ đô Hà Nội để lãnh đạo, giữ vững
và củng cố chính quyền non trẻ. Lúc ấy, Bác ốm
và rất gầy. Chúng tôi mua ít tim gan nấu cháo
cho Bác. Nhưng có thể do không may mua phải
tim gan của lợn gạo nên Bác lại lên cơn sốt cao.
Trên đường về Hà Nội, có lúc mệt quá, Bác
không đi được, anh em dùng vải và đòn tre làm
cáng. Nằm trên cáng, người sốt hầm hập nhưng
Bác vẫn thấy vui vì đi tới đâu cũng thấy cờ đỏ
sao vàng và đồng bào hào hứng hô vang: "Ủng hộ
Việt Minh", "Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm".
Chiều 23 tháng 8, về đến ngoại thành Hà Nội,
Bác dừng lại ở Phú Gia. Ngày 25 tháng 8 năm
1945, đồng chí Trường Chinh đến đón Bác. Hà
Nội hừng hực khí thế cách mạng. Khắp phố
phường tràn ngập niềm hân hoan với cờ đỏ sao
vàng. Ít ai để ý đến một chiếc xe ôtô cũ, màu đen
chở Bác chạy từ phía Chèm, dọc theo đê Yên
Phụ, xuống dốc Hàng Than, qua phố Hàng Giấy
rồi rẽ Hàng Mã về đến trước số nhà 35 Hàng
Cân. Xe đưa Bác vào cổng sau, rồi Bác lên thẳng
gác hai nhà số 48 phố Hàng Ngang. Đây là ngôi
nhà ba tầng của ông Trịnh Văn Bô, một thương
gia lớn của Hà Nội và là cơ sở của cách mạng.
Nhà xây chắc chắn rất tiện cho công tác bảo vệ.
Tầng một và tầng ba chủ nhà dành để ở và bán
hàng. Còn tầng hai dành cho cách mạng. Lúc
này, chủ nhà chưa biết người cách mạng đó
11
chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đi lên, đi xuống
nhiều, chủ nhà chỉ thấy một cụ già dáng người
gầy nhưng nhanh nhẹn, có đôi mắt sáng lạ
thường. Sau này chủ nhà mới biết ngôi nhà của
mình có vinh dự được đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Ngay chiều tối hôm sau, tôi (tức Vũ Kỳ)
được Trung ương chọn làm thư ký cho Bác. Bác
thân mật hỏi tôi:
- Chú tên gì?
Tôi thưa:
- Cháu tên Cần ạ (tên của tôi hồi đó).
Có lẽ tôi xúc động nói không rõ nên Bác nghe
thành Cẩn. Bác trìu mến bảo:
- Cẩn à, Cẩn là cẩn thận. Rất tốt.
Sáng hôm sau, Bác lại hỏi tên tôi, tôi thưa
rất rõ:
- Cháu là Cần ạ.
Bác tỏ ra rất vui và nói ngay:
- Cần thì càng tốt. Cần là cần, kiệm, liêm,
chính.
Đó cũng là điều mong muốn của Bác về phẩm
chất, đạo đức của người cán bộ mà những năm
sau này mỗi dịp gặp cán bộ, mỗi khi đến thăm các
lớp huấn luyện, Bác đều căn dặn mọi người phải
thực hiện cần, kiệm, liêm, chính.
Trong căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, chủ
nhà dùng căn phòng phía sau trên tầng hai làm
phòng ăn. Giữa phòng kê một chiếc bàn gỗ dài và
12
to, quanh bàn có 8 chiếc ghế tựa đệm mềm. Bác
dùng bàn này để làm việc với các đồng chí
Thường vụ Trung ương. Cuối phòng kê một chiếc
bàn tròn. Nơi đây Bác dùng làm bàn ăn. Trong
cuộc sống hàng ngày, Bác không dành cho mình
một sự ưu đãi nào. Bác là tấm gương sáng về đức
tính giản dị của người cán bộ cách mạng. Bác
thường ngồi làm việc trên chiếc bàn kê sát tường
bọc dạ xanh màu lá mạ, vừa đủ để tập giấy bút
và chiếc máy chữ nhỏ Bác mang từ chiến khu về.
Trong những ngày này, Bác dành nhiều thời gian
và tâm trí cho việc soạn thảo bản Tuyên ngôn
Độc lập. Hàng ngày Bác dậy sớm tập thể dục,
sau đó ngồi vào bàn và đánh máy luôn bản thảo.
Ban đêm, Bác cũng thức rất khuya, trầm ngâm
suy nghĩ về những nội dung trong bản thảo
Tuyên ngôn Độc lập. Sáng ngày 29 tháng 8, Bác
chuyển đến Bắc Bộ phủ làm việc. Ở đây, Bác tiếp
tục hoàn chỉnh bản Tuyên ngôn Độc lập. Sau
mấy ngày sốt, tuy sức khỏe giảm sút trông thấy,
nhưng sức làm việc của Bác thì vẫn phi thường.
Đêm ngày 29 tháng 8, Bác thức khuya hơn bình
thường vì ngày 2 tháng 9 đã cận kề. Bác viết rồi
lại sửa. Những lúc suy nghĩ căng thẳng nhất Bác
thường đặt tay lên trán và đôi mắt sáng khi thì
nhìn những dòng chữ như có hồn vừa được viết
ra, khi thì nhìn vào đêm tối như tìm một điều gì
đó mà chỉ riêng Bác mới hiểu.
13
Cho đến ngày 30 tháng 8, bản Tuyên ngôn
Độc lập được dự thảo xong, Bác đưa ra tranh thủ
ý kiến các đồng chí Trung ương.
Sáng ngày 31 tháng 8, Bác hỏi tôi:
- Chú Cần có biết Quảng trường dự định họp
míttinh như thế nào không?
Rồi Bác bảo tôi vẽ phác bản đồ cho Bác. Xem
bản đồ xong. Bác hỏi:
- Liệu được bao nhiêu người?
Tôi thưa với Bác:
- Được vài chục vạn người đấy ạ.
Bác hỏi tiếp:
- Thế các chú định bố trí để đồng bào đi vệ
sinh ở đâu?
Tôi sững sờ trước câu hỏi của Bác và lúng
túng không biết trả lời như thế nào, thì Bác
nói tiếp:
- Việc nhỏ, nhưng nếu không chú ý bố trí cho
tốt thì rất dễ mất trật tự. Chú có biết không, ở
Hương Cảng, công nhân lao động biểu tình thì
chính quyền Anh chưa giải quyết, nhưng khi công
nhân công ty vệ sinh đình công thì chính quyền
Anh phải giải quyết ngay. Vì đã có lần giải quyết
chậm, rác rưởi bẩn thỉu ngập đường phố.
Tiếp đó, Bác dặn tôi nói với Ban tổ chức, nếu
trời mưa thì kết thúc míttinh sớm hơn, tránh cho
đồng bào khỏi bị ướt, nhất là đối với các cụ già và
các cháu nhỏ.
14
Thật hạnh phúc biết bao cho nhân dân Việt
Nam khi được biết vị đứng đầu Chính phủ Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ chỉ trước khi đọc
bản Tuyên ngôn Độc lập vài giờ vẫn chăm lo đến
những cái nhỏ nhất trong đời sống.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945 đi vào lịch sử dân
tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi: khai sinh
ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tại quảng
trường Ba Đình, khi đọc bản Tuyên ngôn Độc
lập, đến đoạn tố cáo tội ác của phát xít Nhật, cả
biển người im phăng phắc. Nghĩ đồng bào nghe
mình nói tiếng Nghệ An không rõ và quên cả
mình là Chủ tịch nước đang trịnh trọng đọc
Tuyên ngôn Độc lập, Bác ngừng đọc cất tiếng hỏi
rất thân mật:
- Đồng bào nghe rõ tiếng tôi không?1
Tiếng trả lời: "Có" như sấm dậy. Chưa bao
giờ và chưa ở đâu, người ta lại thấy tình cảm
giữa lãnh đạo cao nhất và dân chúng gần gũi và
thân thương đến thế! Kết thúc cuộc míttinh, ra
về nhưng mọi người vẫn như nhìn thấy ánh mắt,
vẫn như nghe thấy giọng nói ấm áp và hiền hậu
của Bác.
Ngay ngày 3 tháng 9, trong phiên họp đầu
tiên của Chính phủ, do Bác chủ trì, đã bàn chương
_____________
1. Một số sách, báo viết: "Tôi nói, đồng bào nghe rõ
không?" (BT).
15
trình diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, củng
cố chính quyền, chấn chỉnh phong cách làm việc
của cán bộ từ Trung ương đến xã. Bác luôn nhắc
nhở: Giành chính quyền đã khó, nhưng không khó
bằng giữ chính quyền.
Lời Bác dặn cho đến ngày hôm nay vẫn là
điều cần thiết.
16
NHỮNG NGÀY LÀM VIỆC
SAU KHI ĐỌC TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
Cùng với niềm hân hoan về bước ngoặt lịch
sử của dân tộc Việt Nam trong ngày 2 tháng 9 là
biết bao lo toan để giữ vững và củng cố chính
quyền non trẻ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người
đứng đầu Chính phủ Việt Nam, trong những
ngày này làm việc rất căng thẳng vì tình hình
trong nước và quốc tế đặt ra những nhiệm vụ hết
sức cấp bách. Nhưng phong thái của Người rất
ung dung, Người bình tĩnh giải quyết từng
nhiệm vụ cụ thể. Người liên tiếp chủ trì các cuộc
họp Chính phủ bàn các nhiệm vụ khẩn cấp, gặp
gỡ đại biểu nhân dân và viết báo nói về củng cố
chính quyền, rèn luyện cán bộ...
Sau ngày 2 tháng 9, Bác chuyển vào ở hẳn
trong Bắc Bộ phủ. Nhưng Thường vụ Trung ương
vẫn bí mật bố trí cho Bác ở nhà số 8 Lê Thái Tổ,
ngay sau nhà Thủy Tạ. Đây là nhà của ông Hồ
Đắc Điềm, một nhân sĩ yêu nước. Tại căn nhà bí
mật này, sáng sáng, các đồng chí Thường vụ
Trung ương đến trao đổi công việc và ăn sáng
17
cùng Bác. Hình thức vừa ăn sáng, vừa trao đổi
công việc được thực hiện rất đều đặn, khiến cho
không khí buổi họp đầm ấm như một cuộc nói
chuyện trong gia đình mà Bác là người anh cả.
Nhưng cũng có hôm, Bác ăn và nghỉ lại luôn ở Bắc
Bộ phủ để tranh thủ thời gian làm việc.
Lúc đó, đồng chí Khương, tù chính trị ở Sơn
La được chọn đến nấu ăn cho Bác. Thường ăn
sáng cùng với Bác có ba đồng chí: Trường Chinh,
Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp; thỉnh thoảng có
thêm các đồng chí: Nguyễn Lương Bằng, Trần
Đăng Ninh, Hoàng Hữu Nam. Bữa ăn sáng của
Bác thường là cháo hoa với đường cát. Còn các
đồng chí khác thì ăn phở hàng rong, do đồng chí
Khương mua về. Sau khi ăn xong thường có hoa
quả để tráng miệng. Một buổi sáng nọ, đồ tráng
miệng là một nải chuối, vẫn còn buộc nguyên lạt
đặt trên bàn. Có lẽ, theo tục dân ta "chuối đằng
sau, cau đằng trước" cho nên sau khi ăn xong,
một đồng chí bẻ một quả đằng sau nải chuối,
nhưng không may quả chuối bị nẫu một chút.
Đồng chí đó bỏ xuống và bẻ một quả khác phía
trước, ăn rất thản nhiên. Khi Bác ăn xong, Bác
cầm quả chuối ấy lấy dao cắt bỏ chỗ nẫu rồi ăn
và như nói với chính mình: "Ở chiến khu, nẫu
nữa cũng ăn". Đồng chí nọ nghe rõ câu Bác nói
rất ân hận. Các đồng chí khác coi đây là một bài
học không nhỏ.
18
Bữa ăn trưa ở Bắc Bộ phủ, Bác thường xuống
tầng dưới cùng ăn cơm với anh em trong cơ quan.
Chỗ ăn là một chiếc bàn dài, Bác thường ngồi ở
phía đầu bàn, ai đến sau thì cứ thế ngồi vào và
kéo dài cho đến cuối bàn. Một buổi trưa Bác đang
dùng cơm thì Cố vấn Bảo Đại đến thăm. Bác vui
vẻ hỏi ngài Cố vấn:
- Ngài dùng cơm chưa?
- Thưa Chủ tịch, tôi đã ăn rồi.
Cố vấn Bảo Đại nhìn mâm cơm của Bác chỉ
thấy có rau muống xào, đậu phụ kho và một bát
canh, lại thấy Bác gầy yếu quá, nên Cố vấn thưa:
- Bữa cơm của Chủ tịch thanh đạm quá. Nếu
Chủ tịch cho phép tôi sẽ mang thức ăn Huế đến
để Chủ tịch dùng.
Bác thân tình trả lời:
- Cảm ơn Cố vấn, tôi cùng ăn với anh em
thành lệ quen rồi.
Cả buổi tối mồng 2 tháng 9, Bác tập trung
chuẩn bị tài liệu cho phiên họp đầu tiên của
Chính phủ tổ chức vào sáng 3 tháng 9. Sau
"Tuyên ngôn Độc lập", bài phát biểu tại phiên họp
này (sau này được cụ thể hóa thành 6 nhiệm vụ
cấp bách) được Bác chuẩn bị công phu, trong đó
chứa đựng những nội dung mang ý nghĩa to lớn
trong việc chỉ ra những việc phải làm để bảo đảm
cho sự tồn tại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa non trẻ. Đêm đó, Bác thức rất khuya và
19
sáng hôm sau lại dậy rất sớm để bổ sung và sửa
thật kỹ những nội dung đã viết. Nhìn dáng người
mảnh khảnh, hai mắt trũng sâu, nước da xanh
của Bác qua ánh đèn, tôi và anh em phục vụ
không cầm được nước mắt. Mỗi nhiệm vụ Bác đều
phân tích sâu sắc, từ đó chỉ ra việc làm cụ thể.
Bác quan tâm đầu tiên đến việc chống giặc đói với
việc phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất
và theo Bác, "Trong khi chờ đợi ngô, khoai và
những thứ lương thực phụ khác, phải ba bốn
tháng mới có, tôi đề nghị mở một cuộc lạc quyên.
Mười ngày một lần, tất cả đồng bào chúng ta nhịn
ăn một bữa. Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại và phát
cho người nghèo". Bác nghiêm túc thực hiện lời
kêu gọi này. Mười ngày lại thấy Bác nhịn ăn một
bữa trong khi Bác rất gầy yếu. Tôi nhớ một buổi
trưa ở Bắc Bộ phủ, Bác bị cảm. Bác nằm trên đi
văng và gối đầu lên đùi tôi để tôi xoa bóp trán.
Nhìn Bác gầy rộc, nghĩ đến bao công việc còn chất
chồng ở phía trước mà ăn uống không đều đặn,
chúng tôi lo cho sức khỏe của Bác nên đề nghị Bác
không nên nhịn ăn. Bác ôn tồn nói: "Bác kêu gọi
đồng bào 10 ngày nhịn ăn một bữa thì Bác cũng
phải gương mẫu nhịn ăn như đồng bào, chứ các
đồng chí nói Bác cứ ăn thì làm gương cho ai được?".
Lượng gạo quyên góp tuy nhỏ, nhưng nhỏ mà
nhiều người góp lại thành lớn. Từ đó đến nay, các
đợt quyên góp ủng hộ đồng bào vùng bị thiên tai,
20
hỏa hoạn đã trở thành đạo lý, truyền thống tốt
đẹp của dân tộc.
Sau khi phát động chiến dịch tăng gia sản
xuất, giải quyết nạn đói của dân, Bác lại băn
khoăn và day dứt trước một vấn đề khá nan giải
là ngân khố của Chính phủ hầu như trống rỗng.
Chúng ta hiểu rõ ý Bác, trong khi có độc lập, tự
do, cái giá trị lớn nhất của một dân tộc đã giành
được, thì những công việc cấp bách và bộn bề nhất
lúc này cũng phải được giải quyết để độc lập, tự
do được củng cố. Trong hai ngày 15 và 16 tháng 9,
tôi thấy Bác làm việc tập trung một cách khác
thường. Có buổi, Bác ngồi liên tục ở bàn viết tới 4
giờ đồng hồ. Chiều ngày 16 tháng 9, khi nhận tài
liệu là một bài viết để đăng báo từ tay Bác trao
với nhan đề: Thư gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp
"Tuần lễ VÀNG" và nhìn những đoạn Bác sửa, tôi
thấy Bác thận trọng cân nhắc từng ý, từng câu vì
theo Bác: "Muốn củng cố nền tự do độc lập ấy,
chúng ta cần sức hy sinh phấn đấu của toàn quốc
đồng bào; nhưng chúng ta cũng rất cần sức quyên
giúp của nhân dân, nhất là những nhà giàu có" và
bốn từ "những nhà giàu có" Bác viết đậm hơn.
Phải chăng đây là đối tượng quyên góp chính mà
Bác quan tâm trong "Tuần lễ VÀNG"? "Tuần lễ
VÀNG" đã mang lại kết quả rất tốt và đây cũng là
một trong những bài học lấy dân làm gốc mà Bác
đã để lại và còn nguyên giá trị đến hôm nay.
21
Một việc nữa được Bác đặt thành vấn đề lớn
và đưa vào chương trình làm việc ngay trong
những ngày đầu tiên là việc tiếp dân, vì theo Bác
đây là nguyện vọng chính đáng của đồng bào.
Nhưng cách tiếp dân của Bác rất thiết thực và cụ
thể: phải gửi thư nói trước, mỗi đoàn không quá
10 người và mỗi lần tiếp chuyện không quá một
tiếng. Trong một buổi tiếp chuyện, Bác trao đổi
cùng đại biểu về xây dựng đời sống mới và sự cần
thiết của mỗi người dân thực hiện: cần, kiệm,
liêm, chính, chí công, vô tư. Có người hỏi Bác:
- Thưa Cụ, Cụ kêu gọi xây dựng đời sống
mới sao lại thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí
công, vô tư của Khổng Tử đề ra cách đây đã mấy
ngàn năm?
Bác nhìn anh thanh niên rất hiền hậu:
- Chú nói có lý đấy! Tôi hỏi lại chú nhé! Cơm
hàng ngày chúng ta ăn có từ bao lâu rồi? Không
khí chúng ta thở có từ bao giờ?
Bác nhìn mọi người, rồi nói tiếp:
- Thực hiện đời sống mới không phải cái gì cũ
đều bỏ hết cả. Những cái cũ mà vẫn thúc đẩy
cuộc sống thì cần phải giữ gìn nó. Còn những cái
mới thì phải chọn lọc những cái tốt có ích lợi cho
mọi người chứ không phải cứ mới là làm không
suy nghĩ.
Cách giải thích, so sánh của Bác rất đơn giản
và dễ hiểu. Không những đại biểu nọ hết thắc mắc
22
mà những người khác cũng qua đó mà hiểu ra
rằng, xây dựng đời sống mới phải từ bỏ lối sống
lười biếng, gian xảo, tham ô, phải từ bỏ rượu và
thuốc phiện, những thứ mà chế độ thực dân đầu
độc nhân dân ta.
Phải chăng, việc tiếp dân do Bác khởi xướng
cách đây 55 năm đến nay đã thành nền nếp? Tuy
nhiên, phải thừa nhận rằng, hiện nay, chất lượng
tiếp dân và hiệu quả giải quyết đơn khiếu nại của
dân còn phải cố gắng học tập Bác rất nhiều cho
thiết thực và cụ thể.
Công việc tiếp theo được Bác đặc biệt quan
tâm là xây dựng, củng cố chính quyền và rèn
luyện cán bộ. Các bài viết, đăng trên báo Cứu
Quốc (nay là báo Nhân Dân), "Cách tổ chức các
Ủy ban nhân dân" ngày 11 tháng 9, "Thư gửi các
đồng chí tỉnh nhà" ngày 17 tháng 9 và bài viết
"Chính phủ là công bộc của dân" ngày 19 tháng 9
là những trăn trở của Bác đối với một chính
quyền công - nông mới, một chính quyền mà "Việc
gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì
phải tránh", là những đòi hỏi của Bác đối với cán
bộ về phẩm chất đạo đức, về cách thức điều hành.
Vì theo Bác, cán bộ ta khi hoạt động bí mật thì rất
thạo, có kinh nghiệm, nhưng ra làm công tác
chính quyền, làm cán bộ từ Trung ương đến cấp
xã thì rất lúng túng, giữ chính quyền thế nào
cũng chưa có kinh nghiệm.
23
Có một câu chuyện đến hôm nay tôi vẫn còn
nhớ. Một hôm, đồng chí Vũ Anh phụ trách một tổ
làm vũ khí ở Cao Bằng về Hà Nội báo cáo với Bác
một số việc. Đồng chí Vũ Anh mặc một bộ quần áo
lụa mới. Sau khi nghe báo cáo xong, Bác bảo đồng
chí Vũ Anh:
- Lên trên gác nghỉ với Bác (ở Bắc Bộ phủ chỉ
có một căn gác dành riêng cho Bác nghỉ).
Rồi Bác nói:
- Sao chú lại mặc quần áo đẹp thế?
Đồng chí Vũ Anh nhanh trí trả lời:
- Thưa Bác, đồng bào cho đấy ạ!
Bác ân cần khuyên:
- Đồng bào cho cũng không nên mặc. Việt Minh
mình mới giành được chính quyền mà cán bộ đã
ăn mặc đẹp là không nên.
Các đồng chí cán bộ như hiểu rõ tấm lòng
của Bác, trong khi đồng bào ta cơm ăn còn đói,
áo mặc còn chưa được lành, thì người cán bộ
không nên tạo ra một khoảng cách trong sinh
hoạt với quần chúng.
Tôi lại nhớ một câu chuyện khác. Trong một
lần ngồi nói chuyện, Bác thấy một đồng chí cán bộ
ngồi ghế phía trước rất lúng túng, không để chân
bình thường như mọi người mà cứ dúi chân vào
dưới gầm ghế. Hóa ra, đồng chí này mang đôi giầy
mới. Thấy thế Bác ôn tồn bảo: "Giầy của chú đã
hỏng thì chú đóng đôi giầy mới có gì mà phải
24
ngại". Bác thường căn dặn cán bộ không nên coi
thường những việc nhỏ. Việc nhỏ mà làm không
tốt thì việc lớn làm không xong. Người đã đi xa
nhưng những lời khuyên của Người thì vẫn còn đó
âm vang từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Trong những ngày này, biết bao nhiêu công
việc phải lo toan: xây dựng chính quyền, giữ vững
chính quyền, cảnh giác với bọn thực dân đang lăm
le quay lại xâm lược nước ta, nhưng Bác không
quên những ngày lễ, tết, như Tết Trung thu, ngày
khai giảng năm học mới. Bác đã gửi thư cho các
cháu thiếu nhi nhân Tết Trung thu đầu tiên, gửi
thư cho học sinh nhân ngày khai giảng đầu tiên
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lúc này,
với các em học sinh, Bác không còn là một vị chủ
tịch của một nước, mà chỉ là người anh lớn gần
gũi. Thật kỳ diệu, ngay cả trong khó khăn của
những ngày đầu dựng nước, Bác đã đặt lòng tin
vào thế hệ trẻ khi Người viết "Non sông Việt Nam
có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam
có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các
cường quốc năm châu được hay không, chính là
nhờ một phần lớn ở công học tập của các em".
55 năm đã trôi qua, thế hệ trẻ Việt Nam với
những thành tích rực rỡ trong chiến đấu, học tập,
rèn luyện và nhất là kết quả trong các kỳ thi quốc
tế về toán, vật lý, hóa... những năm gần đây rất
xứng đáng với lòng tin yêu của Bác. Chúng ta đều
25
hiểu, không phải ngẫu nhiên mà tài liệu cuối
cùng của Bác trong tháng 9 năm 1945 là thư gửi
học sinh, bởi vì lúc nào Bác cũng dành tình cảm
và đặt lòng tin vào thế hệ trẻ, những chủ nhân
tương lai của đất nước.
Suốt cả một tháng, sau ngày đọc Tuyên ngôn
Độc lập, Bác Hồ bận rộn hầu như suốt cả ngày lẫn
đêm, lo toan những nhiệm vụ lớn, nhưng không
quên chăm lo cho dân, cho cán bộ từ những việc
nhỏ nhất...
26
MÙA XUÂN NĂM 1946
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chỉ sau 28 ngày
nhân dân ta giành được chính quyền, thực dân
Pháp được quân đội Anh giúp sức đã nổ súng
đánh chiếm trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ tại
Sài Gòn. Ngày 26 tháng 9 năm 1945, qua Đài
Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu
gọi đồng bào Nam Bộ, trong đó có đoạn: "Tôi chắc
và đồng bào cả nước đều chắc vào lòng kiên quyết
ái quốc của đồng bào Nam Bộ... Tôi chắc và đồng
bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và toàn
quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và
nhân dân hiện đang hy sinh tranh đấu để giữ
vững nền độc lập của nước nhà". Ngày 29 tháng 10
năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi
đồng bào Nam Bộ quyết chiến đấu đến giọt máu
cuối cùng để bảo vệ cho nền độc lập của Việt Nam
và để chiến thắng giặc ngoại xâm, toàn thể quốc
dân hãy đoàn kết lại thành một khối kiên cố,
thống nhất. Ngày 30 tháng 10 năm 1945, Chủ
tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho thanh niên Nam
Bộ. Trong thư có đoạn: "Đã hơn một tháng nay,
27
anh chị em đã phấn đấu cực kỳ anh dũng. Toàn
thể đồng bào Việt Nam đều cảm động... Những
gương hy sinh anh dũng của các bạn đã sáng dọi
khắp nước. Những chiến công oanh liệt của các
bạn đã làm cho toàn thể đồng bào thêm kiên
quyết". Ngày 5 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ
Chí Minh dự cuộc míttinh hưởng ứng "Ngày
kháng chiến" của nhân dân Thủ đô, Người chỉ rõ
âm mưu của thực dân Pháp muốn chiếm lại nước
ta và kêu gọi đồng bào ta kiên quyết đấu tranh
giữ vững nền độc lập của dân tộc. Người tin tưởng
cuộc kháng chiến sẽ thành công.
Trong thư gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp
đầu năm 1946, Bác gửi lời chào tới các chiến sĩ
yêu quý, đang gan góc chiến đấu ở các mặt trận.
Bác nhắc: "Qua năm mới, chúng ta có nhiều
công việc quan trọng phải làm", trong đó phải
hăng hái tham gia cuộc tuyển cử vào ngày 6
tháng 1 năm 1946 để tổ chức một Quốc hội đủ
tinh thần và lực lượng thay mặt cho toàn dân.
Bác kiên quyết chỉ thị phải tổ chức sớm Tổng
tuyển cử vì qua Tổng tuyển cử thể hiện được
trách nhiệm của những người thay mặt nhân
dân gánh vác việc nước, đồng thời cũng thể hiện
được lòng tin của toàn dân với Chính phủ. Và
qua Tổng tuyển cử, Việt Nam còn muốn thông
báo với toàn thế giới rằng, Việt Nam là một
nước độc lập, Việt Nam kiên quyết đoàn kết
28
chặt chẽ, kiên quyết chống bọn thực dân và kiên
quyết giành quyền độc lập.
Trước đó một ngày, ngày 5 tháng 1 năm 1946,
Bác ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu. Bác viết:
"Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta,
vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là
một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà
nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ
của mình.
Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền
Nam rằng: Về mặt trận quân sự, thì các chiến sĩ
dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính
trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với
quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một
viên đạn...
Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra
những người xứng đáng thay mặt cho mình, và
gánh vác việc nước".
Tối ngày 5 tháng 1, Bác bảo tôi:
- Ngày mai là ngày Tổng tuyển cử đầu tiên,
chú đi cùng Bác, nhớ mang theo bút.
Sáng sớm ngày 6 tháng 1 năm 1946, tôi cùng
Bác đến bỏ phiếu ở số 10 phố Hàng Vôi. Trước đó
mấy ngày, nhận được danh sách những người ứng
cử, Bác đọc rất kỹ để lựa chọn những người xứng
đáng gánh vác việc nước. Sau đó Bác đến thăm
những nơi bỏ phiếu ở Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng
Trống và một số nơi khác. Tổng tuyển cử đầu tiên
29
thành công đã bầu ra được những người có đủ
tinh thần, trách nhiệm cùng toàn dân bước vào
công cuộc xây dựng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Cả nước vui niềm vui Tổng tuyển cử thành công,
và vui chuẩn bị đón Tết Xuân độc lập đầu tiên.
Không hiểu từ bao giờ, Tết âm lịch đã trở nên
thiêng liêng đối với mỗi người dân Việt Nam. Tết
Bính Tuất đến chỉ sau ngày Bác tuyên bố khai
sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hơn 5
tháng. Vì vậy, không chỉ người dân Hà Nội mà
mọi người dân trong cả nước đều nghĩ đến Tết độc
lập đầu tiên sớm hơn mọi năm. Một tuần nữa mới
tới ngày ông Táo lên trời mà mọi nhà đã sửa soạn
cả rồi. Đối với Bác Hồ, mặc dù bận trăm công
nghìn việc của Chính phủ mới, nhưng vẫn không
quên lo Tết cho đồng bào, chiến sĩ.
Tối ngày 19 tháng 1 năm 1946, Bác hỏi tôi:
- Chú Cần xem sắp đến ngày Tết ông Táo
chưa nhỉ?
- Thưa Bác, hôm nay mới là 18 tháng chạp,
còn 5 ngày nữa ạ.
Đêm đó, Bác trằn trọc không ngủ. Nghe tiếng
cựa mình, tôi biết Bác còn thức. Chắc giờ này Bác
đang nghĩ nhiều đến đồng bào và chiến sĩ cả nước.
Sáng ngày 20, Bác gọi tôi lại, bảo lấy giấy bút,
Bác đọc cho viết thư kêu gọi đồng bào nhân dịp
Tết sắp đến. Thư ngắn gọn và tôi cứ tưởng như
Bác đang nói chuyện với mọi người: "Tôi kêu gọi
30
đồng bào và các đoàn thể làm thế nào để chia sẻ
cuộc vui Xuân mừng Tết với:
Những chiến sĩ oanh liệt ở trước mặt trận,
Những gia quyến các chiến sĩ,
Những đồng bào nghèo nàn,
Sao cho mọi người đều được hưởng các thú vui
về Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập".
Ngay chiều hôm đó, Bác lại viết thư gửi thanh
niên và nhi đồng. Bác gửi riêng cho thanh niên và
nhi đồng bởi đây là những chủ nhân tương lai của
đất nước, cả nước đang đặt niềm tin vào thế hệ trẻ
mà thư trước Bác chưa nhắc đến. Bác đọc chậm
rãi cho tôi viết và cẩn thận sửa lại một số từ mà
Bác chưa vừa lòng. Lời so sánh trong thư làm cho
bất cứ bạn trẻ nào khi đọc, khi nghe cũng đều
thấy một sức xuân phơi phới trong mình: "Một
năm khởi đầu từ mùa Xuân. Một đời khởi đầu từ
tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội". Thư
Bác khuyên bảo: "Năm mới, chúng ta thực hành
đời sống mới để trở nên những công dân mới,
xứng đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa".
Ngày 1 tháng 2 năm 1946, tức 30 Tết, từ sáng
sớm, anh Cả (tức đồng chí Nguyễn Lương Bằng)
mang đến hai bọc nói là Bác đã dặn. Chiều lúc đi
làm về, Bác nói với tôi:
- Tối nay, chú đưa Bác đến thăm một số gia
đình Tết nghèo, Tết vừa, Tết khá, Tết sang. Chú
không phải báo trước cho bất cứ ai.
31
Bác lại dặn chỉ cần 2 bảo vệ, 1 lái xe đi cùng
nên tôi rất lo lắng, bởi ta vừa giành được chính
quyền, các thế lực phản động vẫn đang rắp tâm
phá hoại cách mạng. Thấy tôi không yên tâm, Bác
giải thích và động viên: "Chú có biết cách bảo vệ
tốt nhất là gì không? Bảo vệ tốt nhất là bí mật và
bất ngờ!".
Bác nói thêm:
- Dân ta rất tốt. Chú phải tin vào dân.
Lời nói của Bác làm tôi bình tĩnh hơn, nhưng
vẫn chưa hết lo. Là một cán bộ hoạt động bí mật
ở Hà Nội, tôi hiểu khá tường tận các đường phố
nên sắp sẵn trong đầu những chỗ sẽ đến, những
phố sẽ đi qua, làm thế nào để đường đi ngắn và
an toàn.
19 giờ ngày 30 Tết, trời tối đen. Cái tối đêm 30.
Trời rét ngọt. Năm Bác cháu lên xe. Xe chạy qua
từng phố vắng vẻ. Cái ồn ào, sôi động của không
khí đón Tết giờ này đã chuyển vào trong từng
ngôi nhà, để lại cho đường phố một vẻ yên tĩnh lạ
thường. Xe dừng lại ở đầu ngõ Hàng Đũa, phố
Sinh Từ. Bác cháu lần mò vào trong ngõ. Đường
mấp mô, có lúc phải bật đèn pin. Tôi đưa Bác vào
một nhà ở cuối ngõ, gọi cửa không thấy tiếng trả
lời. Không cài then, tôi đẩy cửa vào một căn
phòng hẹp lạnh lẽo. Ngọn đèn dầu nhỏ không đủ
soi sáng. Tôi hỏi to:
- Nhà có ai không?
32
Chỉ có tiếng rên từ một chiếc võng tre kê sát
vách. Lại gần thấy một người đắp chiếu đang rên.
Tôi ghé vào đầu giường nói:
- Cụ Hồ đến chúc Tết đấy!
Không thấy tiếng đáp lại, nhưng tiếng rên
không to nữa. Tôi rờ tay lên trán chủ nhà thấy sốt
nóng. Bác bảo kéo chiếu kín cho chủ nhà, rồi Bác
cháu lặng lẽ đi ra, khép kín cửa lại. Ngồi trên xe
Bác nói khẽ như nói với chính mình: "30 Tết mà
không có Tết". Không k...
VỀ BÁC HỒ
NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG
TRƯỜNG KỲ KHÁNG CHIẾN
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
PGS.TS. NGUYỄN THẾ KỶ
Phó Chủ tịch Hội đồng
TS. HOÀNG PHONG HÀ
Thành viên
TRẦN QUỐC DÂN
TS. NGUYỄN ĐỨC TÀI
TS. NGUYỄN AN TIÊM
NGUYỄN VŨ THANH HẢO
VŨ KỲ
TRUYỆN KỂ
VỀ BÁC HỒ
NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG
TRƯỜNG KỲ KHÁNG CHIẾN
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
HÀ NỘI - 2015
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài của
dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới, là
người Việt Nam đầu tiên vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước,
đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác. Người có một cuộc sống và hoạt động
thực tiễn hết sức đa dạng, phong phú và sôi động, gắn
liền với một thời kỳ lịch sử trên nửa thế kỷ của cách
mạng Việt Nam. Đi nhiều nơi, làm nhiều công việc,
đảm nhận nhiều cương vị trong những điều kiện,
hoàn cảnh khác nhau đã đem lại cho Người vốn sống,
kinh nghiệm và hiểu biết phong phú trên nhiều mặt.
Sách báo trong và ngoài nước đã viết nhiều về Người.
Nhưng như một chính khách nước ngoài đã nói, Người
là một vĩ nhân mà chỉ có thể so được với chính bản
thân mình. Cho nên dù sách báo đã viết nhiều vẫn
chưa thể nói hết được cuộc đời hoạt động cách mạng
phong phú của Người.
Để giúp bạn đọc có thêm tài liệu nghiên cứu về tư
tưởng và cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản
5
cuốn sách Truyện kể về Bác Hồ - Những chặng đường
trường kỳ kháng chiến (Xuất bản lần thứ hai).
Cuốn sách do đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ
kể (trong thời gian từ Cách mạng Tháng Tám năm
1945 đến năm 1948), Huyền Tím và Tử Nên ghi, và
được xuất bản lần đầu năm 2001. Đây là những mẩu
chuyện ngắn về Bác Hồ còn ít người biết.
Hy vọng cuốn sách nhỏ này sẽ giúp bạn đọc có
thêm những thông tin quý báu và hiểu thêm về cuộc
đời hoạt động của Bác Hồ.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 6 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
6
LỜI GIỚI THIỆU
Chúng tôi đến gặp đồng chí Vũ Kỳ để tìm hiểu
về những mẩu chuyện ít người biết về Bác Hồ.
Đồng chí ra mở cửa cho chúng tôi, cười và nói vui:
"Bác Hồ ra đi đã hơn 30 năm rồi, làm gì có chuyện
mới nữa. Để chiều lòng các phóng viên tôi sẽ kể
những mẩu chuyện về Bác, nhưng phải đợi tôi
được gặp Bác đã". Và rồi đồng chí đã tâm tình kể
cho chúng tôi nghe những mẩu chuyện ít người
biết về Bác Hồ, trong nhiều buổi cùng làm việc rất
thân mật.
Chúng tôi cố gắng ghi chép và sắp xếp những
mẩu chuyện này thành 10 phần theo thứ tự thời
gian từ năm 1945 đến năm 1948:
- Tháng 8 năm 1945 ở Hà Nội;
- Những ngày làm việc sau khi đọc Tuyên
ngôn Độc lập;
- Mùa xuân năm 1946;
- Năm 1946, năm ngàn cân treo sợi tóc;
- Những ngày đầu trường kỳ kháng chiến;
- Tết kháng chiến đầu tiên;
7
- Những ngày kỷ niệm thành lập Đảng;
- Hành trình từ chùa Một Mái đến Việt Bắc;
- Tiếp tục những chặng đường trường kỳ
kháng chiến;
- Mong muốn của Bác Hồ khi nước nhà thống
nhất.
Chúng tôi hy vọng rằng những mẩu chuyện
này sẽ giúp bạn đọc hiểu biết hơn về cuộc đời hoạt
động cách mạng phong phú của Bác Hồ.
Huyền Tím và Tử Nên
8
THÁNG 8 NĂM 1945 Ở HÀ NỘI
Năm 1940, ba cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam
Kỳ và Đô Lương bùng nổ chống thực dân Pháp,
nhưng đều đi đến thất bại. Trong thời gian này
cũng bắt đầu cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai.
Thực dân Pháp tham chiến, phút chốc đầu
hàng phát xít Đức. Liên Xô phải gánh chịu hậu
quả nặng nề nhất trong cuộc chiến tranh chống
phát xít. Những năm đầu, Lêningrát bị bao vây,
Xtalingrát và nhiều thành phố khác bị giặc phá
tan tành. Phía bên này, phát xít Nhật xâm chiếm
Đông Dương. Đất nước ta trong tình hình cấp
bách đòi hỏi sự nhạy bén với tình thế và nắm bắt
đúng thời cơ.
Đầu năm 1941, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh
đạo cách mạng. Sau này, được Bác giải thích, Bác
quyết định về nước vào thời điểm đó là do thấy
trước được triển vọng của tình hình khi phát xít
Đức thất bại, Chiến tranh thế giới thứ hai kết
thúc là thời cơ có một không hai cho Việt Nam
giành chính quyền. Đấy chính là thời cơ mà người
lãnh đạo cách mạng phải biết tranh thủ nắm lấy.
9
Về Pác Bó vào dịp Tết Tân Tỵ, Bác sống và
làm việc tại hang Cốc Bó (làng Pác Bó, Trường
Hà, Quảng Hà, Cao Bằng). Tại đây, Bác đã ra
báo Việt Nam Độc Lập và ngay trong những số
đầu tiên, Bác đã viết bài về lịch sử Việt Nam
(bằng thơ lục bát). Dưới bài thơ có chú thích:
Năm 1945 cách mạng Việt Nam thành công, và
điều tiên đoán kỳ diệu ấy của Bác đã thành hiện
thực. Ở Pác Bó, sau những buổi làm việc căng
thẳng, Bác thường dành những giây phút thảnh
thơi ngắm cảnh thiên nhiên và đặt tên suối
Lênin và núi Các Mác. Xuân Tân Tỵ, hoa mận
trắng và đào phớt nở đầy hai bên đường, bên
dòng suối. Nhớ về C. Mác - người thầy của cách
mạng vô sản, Bác đã tỉ mỉ tạc tượng C. Mác trên
khối nhũ đá ngay trong hang Cốc Bó này. Dòng
chữ nho ghi dưới bức tượng "Năm 1941 tháng 2
ngày 8" là ngày Bác hoàn thành bức tượng1. Từ
Pác Bó (Cao Bằng) Bác chuyển về Tân Trào
(Tuyên Quang). Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Hà
Nội khởi nghĩa giành chính quyền, rồi lần lượt
đến các tỉnh khác trong cả nước. Cuối tháng 8
năm 1945, Thường vụ Trung ương quyết định
_____________
1. Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2006, t.2, tr.134, ghi như sau: Tháng 2,
ngày 8: Nguyễn Ái Quốc đến ở hang Cốc Bó với bí danh
Già Thu (BT).
10
đưa Bác về Thủ đô Hà Nội để lãnh đạo, giữ vững
và củng cố chính quyền non trẻ. Lúc ấy, Bác ốm
và rất gầy. Chúng tôi mua ít tim gan nấu cháo
cho Bác. Nhưng có thể do không may mua phải
tim gan của lợn gạo nên Bác lại lên cơn sốt cao.
Trên đường về Hà Nội, có lúc mệt quá, Bác
không đi được, anh em dùng vải và đòn tre làm
cáng. Nằm trên cáng, người sốt hầm hập nhưng
Bác vẫn thấy vui vì đi tới đâu cũng thấy cờ đỏ
sao vàng và đồng bào hào hứng hô vang: "Ủng hộ
Việt Minh", "Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm".
Chiều 23 tháng 8, về đến ngoại thành Hà Nội,
Bác dừng lại ở Phú Gia. Ngày 25 tháng 8 năm
1945, đồng chí Trường Chinh đến đón Bác. Hà
Nội hừng hực khí thế cách mạng. Khắp phố
phường tràn ngập niềm hân hoan với cờ đỏ sao
vàng. Ít ai để ý đến một chiếc xe ôtô cũ, màu đen
chở Bác chạy từ phía Chèm, dọc theo đê Yên
Phụ, xuống dốc Hàng Than, qua phố Hàng Giấy
rồi rẽ Hàng Mã về đến trước số nhà 35 Hàng
Cân. Xe đưa Bác vào cổng sau, rồi Bác lên thẳng
gác hai nhà số 48 phố Hàng Ngang. Đây là ngôi
nhà ba tầng của ông Trịnh Văn Bô, một thương
gia lớn của Hà Nội và là cơ sở của cách mạng.
Nhà xây chắc chắn rất tiện cho công tác bảo vệ.
Tầng một và tầng ba chủ nhà dành để ở và bán
hàng. Còn tầng hai dành cho cách mạng. Lúc
này, chủ nhà chưa biết người cách mạng đó
11
chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đi lên, đi xuống
nhiều, chủ nhà chỉ thấy một cụ già dáng người
gầy nhưng nhanh nhẹn, có đôi mắt sáng lạ
thường. Sau này chủ nhà mới biết ngôi nhà của
mình có vinh dự được đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Ngay chiều tối hôm sau, tôi (tức Vũ Kỳ)
được Trung ương chọn làm thư ký cho Bác. Bác
thân mật hỏi tôi:
- Chú tên gì?
Tôi thưa:
- Cháu tên Cần ạ (tên của tôi hồi đó).
Có lẽ tôi xúc động nói không rõ nên Bác nghe
thành Cẩn. Bác trìu mến bảo:
- Cẩn à, Cẩn là cẩn thận. Rất tốt.
Sáng hôm sau, Bác lại hỏi tên tôi, tôi thưa
rất rõ:
- Cháu là Cần ạ.
Bác tỏ ra rất vui và nói ngay:
- Cần thì càng tốt. Cần là cần, kiệm, liêm,
chính.
Đó cũng là điều mong muốn của Bác về phẩm
chất, đạo đức của người cán bộ mà những năm
sau này mỗi dịp gặp cán bộ, mỗi khi đến thăm các
lớp huấn luyện, Bác đều căn dặn mọi người phải
thực hiện cần, kiệm, liêm, chính.
Trong căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, chủ
nhà dùng căn phòng phía sau trên tầng hai làm
phòng ăn. Giữa phòng kê một chiếc bàn gỗ dài và
12
to, quanh bàn có 8 chiếc ghế tựa đệm mềm. Bác
dùng bàn này để làm việc với các đồng chí
Thường vụ Trung ương. Cuối phòng kê một chiếc
bàn tròn. Nơi đây Bác dùng làm bàn ăn. Trong
cuộc sống hàng ngày, Bác không dành cho mình
một sự ưu đãi nào. Bác là tấm gương sáng về đức
tính giản dị của người cán bộ cách mạng. Bác
thường ngồi làm việc trên chiếc bàn kê sát tường
bọc dạ xanh màu lá mạ, vừa đủ để tập giấy bút
và chiếc máy chữ nhỏ Bác mang từ chiến khu về.
Trong những ngày này, Bác dành nhiều thời gian
và tâm trí cho việc soạn thảo bản Tuyên ngôn
Độc lập. Hàng ngày Bác dậy sớm tập thể dục,
sau đó ngồi vào bàn và đánh máy luôn bản thảo.
Ban đêm, Bác cũng thức rất khuya, trầm ngâm
suy nghĩ về những nội dung trong bản thảo
Tuyên ngôn Độc lập. Sáng ngày 29 tháng 8, Bác
chuyển đến Bắc Bộ phủ làm việc. Ở đây, Bác tiếp
tục hoàn chỉnh bản Tuyên ngôn Độc lập. Sau
mấy ngày sốt, tuy sức khỏe giảm sút trông thấy,
nhưng sức làm việc của Bác thì vẫn phi thường.
Đêm ngày 29 tháng 8, Bác thức khuya hơn bình
thường vì ngày 2 tháng 9 đã cận kề. Bác viết rồi
lại sửa. Những lúc suy nghĩ căng thẳng nhất Bác
thường đặt tay lên trán và đôi mắt sáng khi thì
nhìn những dòng chữ như có hồn vừa được viết
ra, khi thì nhìn vào đêm tối như tìm một điều gì
đó mà chỉ riêng Bác mới hiểu.
13
Cho đến ngày 30 tháng 8, bản Tuyên ngôn
Độc lập được dự thảo xong, Bác đưa ra tranh thủ
ý kiến các đồng chí Trung ương.
Sáng ngày 31 tháng 8, Bác hỏi tôi:
- Chú Cần có biết Quảng trường dự định họp
míttinh như thế nào không?
Rồi Bác bảo tôi vẽ phác bản đồ cho Bác. Xem
bản đồ xong. Bác hỏi:
- Liệu được bao nhiêu người?
Tôi thưa với Bác:
- Được vài chục vạn người đấy ạ.
Bác hỏi tiếp:
- Thế các chú định bố trí để đồng bào đi vệ
sinh ở đâu?
Tôi sững sờ trước câu hỏi của Bác và lúng
túng không biết trả lời như thế nào, thì Bác
nói tiếp:
- Việc nhỏ, nhưng nếu không chú ý bố trí cho
tốt thì rất dễ mất trật tự. Chú có biết không, ở
Hương Cảng, công nhân lao động biểu tình thì
chính quyền Anh chưa giải quyết, nhưng khi công
nhân công ty vệ sinh đình công thì chính quyền
Anh phải giải quyết ngay. Vì đã có lần giải quyết
chậm, rác rưởi bẩn thỉu ngập đường phố.
Tiếp đó, Bác dặn tôi nói với Ban tổ chức, nếu
trời mưa thì kết thúc míttinh sớm hơn, tránh cho
đồng bào khỏi bị ướt, nhất là đối với các cụ già và
các cháu nhỏ.
14
Thật hạnh phúc biết bao cho nhân dân Việt
Nam khi được biết vị đứng đầu Chính phủ Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ chỉ trước khi đọc
bản Tuyên ngôn Độc lập vài giờ vẫn chăm lo đến
những cái nhỏ nhất trong đời sống.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945 đi vào lịch sử dân
tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi: khai sinh
ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tại quảng
trường Ba Đình, khi đọc bản Tuyên ngôn Độc
lập, đến đoạn tố cáo tội ác của phát xít Nhật, cả
biển người im phăng phắc. Nghĩ đồng bào nghe
mình nói tiếng Nghệ An không rõ và quên cả
mình là Chủ tịch nước đang trịnh trọng đọc
Tuyên ngôn Độc lập, Bác ngừng đọc cất tiếng hỏi
rất thân mật:
- Đồng bào nghe rõ tiếng tôi không?1
Tiếng trả lời: "Có" như sấm dậy. Chưa bao
giờ và chưa ở đâu, người ta lại thấy tình cảm
giữa lãnh đạo cao nhất và dân chúng gần gũi và
thân thương đến thế! Kết thúc cuộc míttinh, ra
về nhưng mọi người vẫn như nhìn thấy ánh mắt,
vẫn như nghe thấy giọng nói ấm áp và hiền hậu
của Bác.
Ngay ngày 3 tháng 9, trong phiên họp đầu
tiên của Chính phủ, do Bác chủ trì, đã bàn chương
_____________
1. Một số sách, báo viết: "Tôi nói, đồng bào nghe rõ
không?" (BT).
15
trình diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, củng
cố chính quyền, chấn chỉnh phong cách làm việc
của cán bộ từ Trung ương đến xã. Bác luôn nhắc
nhở: Giành chính quyền đã khó, nhưng không khó
bằng giữ chính quyền.
Lời Bác dặn cho đến ngày hôm nay vẫn là
điều cần thiết.
16
NHỮNG NGÀY LÀM VIỆC
SAU KHI ĐỌC TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
Cùng với niềm hân hoan về bước ngoặt lịch
sử của dân tộc Việt Nam trong ngày 2 tháng 9 là
biết bao lo toan để giữ vững và củng cố chính
quyền non trẻ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người
đứng đầu Chính phủ Việt Nam, trong những
ngày này làm việc rất căng thẳng vì tình hình
trong nước và quốc tế đặt ra những nhiệm vụ hết
sức cấp bách. Nhưng phong thái của Người rất
ung dung, Người bình tĩnh giải quyết từng
nhiệm vụ cụ thể. Người liên tiếp chủ trì các cuộc
họp Chính phủ bàn các nhiệm vụ khẩn cấp, gặp
gỡ đại biểu nhân dân và viết báo nói về củng cố
chính quyền, rèn luyện cán bộ...
Sau ngày 2 tháng 9, Bác chuyển vào ở hẳn
trong Bắc Bộ phủ. Nhưng Thường vụ Trung ương
vẫn bí mật bố trí cho Bác ở nhà số 8 Lê Thái Tổ,
ngay sau nhà Thủy Tạ. Đây là nhà của ông Hồ
Đắc Điềm, một nhân sĩ yêu nước. Tại căn nhà bí
mật này, sáng sáng, các đồng chí Thường vụ
Trung ương đến trao đổi công việc và ăn sáng
17
cùng Bác. Hình thức vừa ăn sáng, vừa trao đổi
công việc được thực hiện rất đều đặn, khiến cho
không khí buổi họp đầm ấm như một cuộc nói
chuyện trong gia đình mà Bác là người anh cả.
Nhưng cũng có hôm, Bác ăn và nghỉ lại luôn ở Bắc
Bộ phủ để tranh thủ thời gian làm việc.
Lúc đó, đồng chí Khương, tù chính trị ở Sơn
La được chọn đến nấu ăn cho Bác. Thường ăn
sáng cùng với Bác có ba đồng chí: Trường Chinh,
Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp; thỉnh thoảng có
thêm các đồng chí: Nguyễn Lương Bằng, Trần
Đăng Ninh, Hoàng Hữu Nam. Bữa ăn sáng của
Bác thường là cháo hoa với đường cát. Còn các
đồng chí khác thì ăn phở hàng rong, do đồng chí
Khương mua về. Sau khi ăn xong thường có hoa
quả để tráng miệng. Một buổi sáng nọ, đồ tráng
miệng là một nải chuối, vẫn còn buộc nguyên lạt
đặt trên bàn. Có lẽ, theo tục dân ta "chuối đằng
sau, cau đằng trước" cho nên sau khi ăn xong,
một đồng chí bẻ một quả đằng sau nải chuối,
nhưng không may quả chuối bị nẫu một chút.
Đồng chí đó bỏ xuống và bẻ một quả khác phía
trước, ăn rất thản nhiên. Khi Bác ăn xong, Bác
cầm quả chuối ấy lấy dao cắt bỏ chỗ nẫu rồi ăn
và như nói với chính mình: "Ở chiến khu, nẫu
nữa cũng ăn". Đồng chí nọ nghe rõ câu Bác nói
rất ân hận. Các đồng chí khác coi đây là một bài
học không nhỏ.
18
Bữa ăn trưa ở Bắc Bộ phủ, Bác thường xuống
tầng dưới cùng ăn cơm với anh em trong cơ quan.
Chỗ ăn là một chiếc bàn dài, Bác thường ngồi ở
phía đầu bàn, ai đến sau thì cứ thế ngồi vào và
kéo dài cho đến cuối bàn. Một buổi trưa Bác đang
dùng cơm thì Cố vấn Bảo Đại đến thăm. Bác vui
vẻ hỏi ngài Cố vấn:
- Ngài dùng cơm chưa?
- Thưa Chủ tịch, tôi đã ăn rồi.
Cố vấn Bảo Đại nhìn mâm cơm của Bác chỉ
thấy có rau muống xào, đậu phụ kho và một bát
canh, lại thấy Bác gầy yếu quá, nên Cố vấn thưa:
- Bữa cơm của Chủ tịch thanh đạm quá. Nếu
Chủ tịch cho phép tôi sẽ mang thức ăn Huế đến
để Chủ tịch dùng.
Bác thân tình trả lời:
- Cảm ơn Cố vấn, tôi cùng ăn với anh em
thành lệ quen rồi.
Cả buổi tối mồng 2 tháng 9, Bác tập trung
chuẩn bị tài liệu cho phiên họp đầu tiên của
Chính phủ tổ chức vào sáng 3 tháng 9. Sau
"Tuyên ngôn Độc lập", bài phát biểu tại phiên họp
này (sau này được cụ thể hóa thành 6 nhiệm vụ
cấp bách) được Bác chuẩn bị công phu, trong đó
chứa đựng những nội dung mang ý nghĩa to lớn
trong việc chỉ ra những việc phải làm để bảo đảm
cho sự tồn tại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa non trẻ. Đêm đó, Bác thức rất khuya và
19
sáng hôm sau lại dậy rất sớm để bổ sung và sửa
thật kỹ những nội dung đã viết. Nhìn dáng người
mảnh khảnh, hai mắt trũng sâu, nước da xanh
của Bác qua ánh đèn, tôi và anh em phục vụ
không cầm được nước mắt. Mỗi nhiệm vụ Bác đều
phân tích sâu sắc, từ đó chỉ ra việc làm cụ thể.
Bác quan tâm đầu tiên đến việc chống giặc đói với
việc phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất
và theo Bác, "Trong khi chờ đợi ngô, khoai và
những thứ lương thực phụ khác, phải ba bốn
tháng mới có, tôi đề nghị mở một cuộc lạc quyên.
Mười ngày một lần, tất cả đồng bào chúng ta nhịn
ăn một bữa. Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại và phát
cho người nghèo". Bác nghiêm túc thực hiện lời
kêu gọi này. Mười ngày lại thấy Bác nhịn ăn một
bữa trong khi Bác rất gầy yếu. Tôi nhớ một buổi
trưa ở Bắc Bộ phủ, Bác bị cảm. Bác nằm trên đi
văng và gối đầu lên đùi tôi để tôi xoa bóp trán.
Nhìn Bác gầy rộc, nghĩ đến bao công việc còn chất
chồng ở phía trước mà ăn uống không đều đặn,
chúng tôi lo cho sức khỏe của Bác nên đề nghị Bác
không nên nhịn ăn. Bác ôn tồn nói: "Bác kêu gọi
đồng bào 10 ngày nhịn ăn một bữa thì Bác cũng
phải gương mẫu nhịn ăn như đồng bào, chứ các
đồng chí nói Bác cứ ăn thì làm gương cho ai được?".
Lượng gạo quyên góp tuy nhỏ, nhưng nhỏ mà
nhiều người góp lại thành lớn. Từ đó đến nay, các
đợt quyên góp ủng hộ đồng bào vùng bị thiên tai,
20
hỏa hoạn đã trở thành đạo lý, truyền thống tốt
đẹp của dân tộc.
Sau khi phát động chiến dịch tăng gia sản
xuất, giải quyết nạn đói của dân, Bác lại băn
khoăn và day dứt trước một vấn đề khá nan giải
là ngân khố của Chính phủ hầu như trống rỗng.
Chúng ta hiểu rõ ý Bác, trong khi có độc lập, tự
do, cái giá trị lớn nhất của một dân tộc đã giành
được, thì những công việc cấp bách và bộn bề nhất
lúc này cũng phải được giải quyết để độc lập, tự
do được củng cố. Trong hai ngày 15 và 16 tháng 9,
tôi thấy Bác làm việc tập trung một cách khác
thường. Có buổi, Bác ngồi liên tục ở bàn viết tới 4
giờ đồng hồ. Chiều ngày 16 tháng 9, khi nhận tài
liệu là một bài viết để đăng báo từ tay Bác trao
với nhan đề: Thư gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp
"Tuần lễ VÀNG" và nhìn những đoạn Bác sửa, tôi
thấy Bác thận trọng cân nhắc từng ý, từng câu vì
theo Bác: "Muốn củng cố nền tự do độc lập ấy,
chúng ta cần sức hy sinh phấn đấu của toàn quốc
đồng bào; nhưng chúng ta cũng rất cần sức quyên
giúp của nhân dân, nhất là những nhà giàu có" và
bốn từ "những nhà giàu có" Bác viết đậm hơn.
Phải chăng đây là đối tượng quyên góp chính mà
Bác quan tâm trong "Tuần lễ VÀNG"? "Tuần lễ
VÀNG" đã mang lại kết quả rất tốt và đây cũng là
một trong những bài học lấy dân làm gốc mà Bác
đã để lại và còn nguyên giá trị đến hôm nay.
21
Một việc nữa được Bác đặt thành vấn đề lớn
và đưa vào chương trình làm việc ngay trong
những ngày đầu tiên là việc tiếp dân, vì theo Bác
đây là nguyện vọng chính đáng của đồng bào.
Nhưng cách tiếp dân của Bác rất thiết thực và cụ
thể: phải gửi thư nói trước, mỗi đoàn không quá
10 người và mỗi lần tiếp chuyện không quá một
tiếng. Trong một buổi tiếp chuyện, Bác trao đổi
cùng đại biểu về xây dựng đời sống mới và sự cần
thiết của mỗi người dân thực hiện: cần, kiệm,
liêm, chính, chí công, vô tư. Có người hỏi Bác:
- Thưa Cụ, Cụ kêu gọi xây dựng đời sống
mới sao lại thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí
công, vô tư của Khổng Tử đề ra cách đây đã mấy
ngàn năm?
Bác nhìn anh thanh niên rất hiền hậu:
- Chú nói có lý đấy! Tôi hỏi lại chú nhé! Cơm
hàng ngày chúng ta ăn có từ bao lâu rồi? Không
khí chúng ta thở có từ bao giờ?
Bác nhìn mọi người, rồi nói tiếp:
- Thực hiện đời sống mới không phải cái gì cũ
đều bỏ hết cả. Những cái cũ mà vẫn thúc đẩy
cuộc sống thì cần phải giữ gìn nó. Còn những cái
mới thì phải chọn lọc những cái tốt có ích lợi cho
mọi người chứ không phải cứ mới là làm không
suy nghĩ.
Cách giải thích, so sánh của Bác rất đơn giản
và dễ hiểu. Không những đại biểu nọ hết thắc mắc
22
mà những người khác cũng qua đó mà hiểu ra
rằng, xây dựng đời sống mới phải từ bỏ lối sống
lười biếng, gian xảo, tham ô, phải từ bỏ rượu và
thuốc phiện, những thứ mà chế độ thực dân đầu
độc nhân dân ta.
Phải chăng, việc tiếp dân do Bác khởi xướng
cách đây 55 năm đến nay đã thành nền nếp? Tuy
nhiên, phải thừa nhận rằng, hiện nay, chất lượng
tiếp dân và hiệu quả giải quyết đơn khiếu nại của
dân còn phải cố gắng học tập Bác rất nhiều cho
thiết thực và cụ thể.
Công việc tiếp theo được Bác đặc biệt quan
tâm là xây dựng, củng cố chính quyền và rèn
luyện cán bộ. Các bài viết, đăng trên báo Cứu
Quốc (nay là báo Nhân Dân), "Cách tổ chức các
Ủy ban nhân dân" ngày 11 tháng 9, "Thư gửi các
đồng chí tỉnh nhà" ngày 17 tháng 9 và bài viết
"Chính phủ là công bộc của dân" ngày 19 tháng 9
là những trăn trở của Bác đối với một chính
quyền công - nông mới, một chính quyền mà "Việc
gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì
phải tránh", là những đòi hỏi của Bác đối với cán
bộ về phẩm chất đạo đức, về cách thức điều hành.
Vì theo Bác, cán bộ ta khi hoạt động bí mật thì rất
thạo, có kinh nghiệm, nhưng ra làm công tác
chính quyền, làm cán bộ từ Trung ương đến cấp
xã thì rất lúng túng, giữ chính quyền thế nào
cũng chưa có kinh nghiệm.
23
Có một câu chuyện đến hôm nay tôi vẫn còn
nhớ. Một hôm, đồng chí Vũ Anh phụ trách một tổ
làm vũ khí ở Cao Bằng về Hà Nội báo cáo với Bác
một số việc. Đồng chí Vũ Anh mặc một bộ quần áo
lụa mới. Sau khi nghe báo cáo xong, Bác bảo đồng
chí Vũ Anh:
- Lên trên gác nghỉ với Bác (ở Bắc Bộ phủ chỉ
có một căn gác dành riêng cho Bác nghỉ).
Rồi Bác nói:
- Sao chú lại mặc quần áo đẹp thế?
Đồng chí Vũ Anh nhanh trí trả lời:
- Thưa Bác, đồng bào cho đấy ạ!
Bác ân cần khuyên:
- Đồng bào cho cũng không nên mặc. Việt Minh
mình mới giành được chính quyền mà cán bộ đã
ăn mặc đẹp là không nên.
Các đồng chí cán bộ như hiểu rõ tấm lòng
của Bác, trong khi đồng bào ta cơm ăn còn đói,
áo mặc còn chưa được lành, thì người cán bộ
không nên tạo ra một khoảng cách trong sinh
hoạt với quần chúng.
Tôi lại nhớ một câu chuyện khác. Trong một
lần ngồi nói chuyện, Bác thấy một đồng chí cán bộ
ngồi ghế phía trước rất lúng túng, không để chân
bình thường như mọi người mà cứ dúi chân vào
dưới gầm ghế. Hóa ra, đồng chí này mang đôi giầy
mới. Thấy thế Bác ôn tồn bảo: "Giầy của chú đã
hỏng thì chú đóng đôi giầy mới có gì mà phải
24
ngại". Bác thường căn dặn cán bộ không nên coi
thường những việc nhỏ. Việc nhỏ mà làm không
tốt thì việc lớn làm không xong. Người đã đi xa
nhưng những lời khuyên của Người thì vẫn còn đó
âm vang từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Trong những ngày này, biết bao nhiêu công
việc phải lo toan: xây dựng chính quyền, giữ vững
chính quyền, cảnh giác với bọn thực dân đang lăm
le quay lại xâm lược nước ta, nhưng Bác không
quên những ngày lễ, tết, như Tết Trung thu, ngày
khai giảng năm học mới. Bác đã gửi thư cho các
cháu thiếu nhi nhân Tết Trung thu đầu tiên, gửi
thư cho học sinh nhân ngày khai giảng đầu tiên
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lúc này,
với các em học sinh, Bác không còn là một vị chủ
tịch của một nước, mà chỉ là người anh lớn gần
gũi. Thật kỳ diệu, ngay cả trong khó khăn của
những ngày đầu dựng nước, Bác đã đặt lòng tin
vào thế hệ trẻ khi Người viết "Non sông Việt Nam
có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam
có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các
cường quốc năm châu được hay không, chính là
nhờ một phần lớn ở công học tập của các em".
55 năm đã trôi qua, thế hệ trẻ Việt Nam với
những thành tích rực rỡ trong chiến đấu, học tập,
rèn luyện và nhất là kết quả trong các kỳ thi quốc
tế về toán, vật lý, hóa... những năm gần đây rất
xứng đáng với lòng tin yêu của Bác. Chúng ta đều
25
hiểu, không phải ngẫu nhiên mà tài liệu cuối
cùng của Bác trong tháng 9 năm 1945 là thư gửi
học sinh, bởi vì lúc nào Bác cũng dành tình cảm
và đặt lòng tin vào thế hệ trẻ, những chủ nhân
tương lai của đất nước.
Suốt cả một tháng, sau ngày đọc Tuyên ngôn
Độc lập, Bác Hồ bận rộn hầu như suốt cả ngày lẫn
đêm, lo toan những nhiệm vụ lớn, nhưng không
quên chăm lo cho dân, cho cán bộ từ những việc
nhỏ nhất...
26
MÙA XUÂN NĂM 1946
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chỉ sau 28 ngày
nhân dân ta giành được chính quyền, thực dân
Pháp được quân đội Anh giúp sức đã nổ súng
đánh chiếm trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ tại
Sài Gòn. Ngày 26 tháng 9 năm 1945, qua Đài
Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu
gọi đồng bào Nam Bộ, trong đó có đoạn: "Tôi chắc
và đồng bào cả nước đều chắc vào lòng kiên quyết
ái quốc của đồng bào Nam Bộ... Tôi chắc và đồng
bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và toàn
quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và
nhân dân hiện đang hy sinh tranh đấu để giữ
vững nền độc lập của nước nhà". Ngày 29 tháng 10
năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi
đồng bào Nam Bộ quyết chiến đấu đến giọt máu
cuối cùng để bảo vệ cho nền độc lập của Việt Nam
và để chiến thắng giặc ngoại xâm, toàn thể quốc
dân hãy đoàn kết lại thành một khối kiên cố,
thống nhất. Ngày 30 tháng 10 năm 1945, Chủ
tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho thanh niên Nam
Bộ. Trong thư có đoạn: "Đã hơn một tháng nay,
27
anh chị em đã phấn đấu cực kỳ anh dũng. Toàn
thể đồng bào Việt Nam đều cảm động... Những
gương hy sinh anh dũng của các bạn đã sáng dọi
khắp nước. Những chiến công oanh liệt của các
bạn đã làm cho toàn thể đồng bào thêm kiên
quyết". Ngày 5 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ
Chí Minh dự cuộc míttinh hưởng ứng "Ngày
kháng chiến" của nhân dân Thủ đô, Người chỉ rõ
âm mưu của thực dân Pháp muốn chiếm lại nước
ta và kêu gọi đồng bào ta kiên quyết đấu tranh
giữ vững nền độc lập của dân tộc. Người tin tưởng
cuộc kháng chiến sẽ thành công.
Trong thư gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp
đầu năm 1946, Bác gửi lời chào tới các chiến sĩ
yêu quý, đang gan góc chiến đấu ở các mặt trận.
Bác nhắc: "Qua năm mới, chúng ta có nhiều
công việc quan trọng phải làm", trong đó phải
hăng hái tham gia cuộc tuyển cử vào ngày 6
tháng 1 năm 1946 để tổ chức một Quốc hội đủ
tinh thần và lực lượng thay mặt cho toàn dân.
Bác kiên quyết chỉ thị phải tổ chức sớm Tổng
tuyển cử vì qua Tổng tuyển cử thể hiện được
trách nhiệm của những người thay mặt nhân
dân gánh vác việc nước, đồng thời cũng thể hiện
được lòng tin của toàn dân với Chính phủ. Và
qua Tổng tuyển cử, Việt Nam còn muốn thông
báo với toàn thế giới rằng, Việt Nam là một
nước độc lập, Việt Nam kiên quyết đoàn kết
28
chặt chẽ, kiên quyết chống bọn thực dân và kiên
quyết giành quyền độc lập.
Trước đó một ngày, ngày 5 tháng 1 năm 1946,
Bác ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu. Bác viết:
"Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta,
vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là
một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà
nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ
của mình.
Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền
Nam rằng: Về mặt trận quân sự, thì các chiến sĩ
dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính
trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với
quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một
viên đạn...
Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra
những người xứng đáng thay mặt cho mình, và
gánh vác việc nước".
Tối ngày 5 tháng 1, Bác bảo tôi:
- Ngày mai là ngày Tổng tuyển cử đầu tiên,
chú đi cùng Bác, nhớ mang theo bút.
Sáng sớm ngày 6 tháng 1 năm 1946, tôi cùng
Bác đến bỏ phiếu ở số 10 phố Hàng Vôi. Trước đó
mấy ngày, nhận được danh sách những người ứng
cử, Bác đọc rất kỹ để lựa chọn những người xứng
đáng gánh vác việc nước. Sau đó Bác đến thăm
những nơi bỏ phiếu ở Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng
Trống và một số nơi khác. Tổng tuyển cử đầu tiên
29
thành công đã bầu ra được những người có đủ
tinh thần, trách nhiệm cùng toàn dân bước vào
công cuộc xây dựng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Cả nước vui niềm vui Tổng tuyển cử thành công,
và vui chuẩn bị đón Tết Xuân độc lập đầu tiên.
Không hiểu từ bao giờ, Tết âm lịch đã trở nên
thiêng liêng đối với mỗi người dân Việt Nam. Tết
Bính Tuất đến chỉ sau ngày Bác tuyên bố khai
sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hơn 5
tháng. Vì vậy, không chỉ người dân Hà Nội mà
mọi người dân trong cả nước đều nghĩ đến Tết độc
lập đầu tiên sớm hơn mọi năm. Một tuần nữa mới
tới ngày ông Táo lên trời mà mọi nhà đã sửa soạn
cả rồi. Đối với Bác Hồ, mặc dù bận trăm công
nghìn việc của Chính phủ mới, nhưng vẫn không
quên lo Tết cho đồng bào, chiến sĩ.
Tối ngày 19 tháng 1 năm 1946, Bác hỏi tôi:
- Chú Cần xem sắp đến ngày Tết ông Táo
chưa nhỉ?
- Thưa Bác, hôm nay mới là 18 tháng chạp,
còn 5 ngày nữa ạ.
Đêm đó, Bác trằn trọc không ngủ. Nghe tiếng
cựa mình, tôi biết Bác còn thức. Chắc giờ này Bác
đang nghĩ nhiều đến đồng bào và chiến sĩ cả nước.
Sáng ngày 20, Bác gọi tôi lại, bảo lấy giấy bút,
Bác đọc cho viết thư kêu gọi đồng bào nhân dịp
Tết sắp đến. Thư ngắn gọn và tôi cứ tưởng như
Bác đang nói chuyện với mọi người: "Tôi kêu gọi
30
đồng bào và các đoàn thể làm thế nào để chia sẻ
cuộc vui Xuân mừng Tết với:
Những chiến sĩ oanh liệt ở trước mặt trận,
Những gia quyến các chiến sĩ,
Những đồng bào nghèo nàn,
Sao cho mọi người đều được hưởng các thú vui
về Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập".
Ngay chiều hôm đó, Bác lại viết thư gửi thanh
niên và nhi đồng. Bác gửi riêng cho thanh niên và
nhi đồng bởi đây là những chủ nhân tương lai của
đất nước, cả nước đang đặt niềm tin vào thế hệ trẻ
mà thư trước Bác chưa nhắc đến. Bác đọc chậm
rãi cho tôi viết và cẩn thận sửa lại một số từ mà
Bác chưa vừa lòng. Lời so sánh trong thư làm cho
bất cứ bạn trẻ nào khi đọc, khi nghe cũng đều
thấy một sức xuân phơi phới trong mình: "Một
năm khởi đầu từ mùa Xuân. Một đời khởi đầu từ
tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội". Thư
Bác khuyên bảo: "Năm mới, chúng ta thực hành
đời sống mới để trở nên những công dân mới,
xứng đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa".
Ngày 1 tháng 2 năm 1946, tức 30 Tết, từ sáng
sớm, anh Cả (tức đồng chí Nguyễn Lương Bằng)
mang đến hai bọc nói là Bác đã dặn. Chiều lúc đi
làm về, Bác nói với tôi:
- Tối nay, chú đưa Bác đến thăm một số gia
đình Tết nghèo, Tết vừa, Tết khá, Tết sang. Chú
không phải báo trước cho bất cứ ai.
31
Bác lại dặn chỉ cần 2 bảo vệ, 1 lái xe đi cùng
nên tôi rất lo lắng, bởi ta vừa giành được chính
quyền, các thế lực phản động vẫn đang rắp tâm
phá hoại cách mạng. Thấy tôi không yên tâm, Bác
giải thích và động viên: "Chú có biết cách bảo vệ
tốt nhất là gì không? Bảo vệ tốt nhất là bí mật và
bất ngờ!".
Bác nói thêm:
- Dân ta rất tốt. Chú phải tin vào dân.
Lời nói của Bác làm tôi bình tĩnh hơn, nhưng
vẫn chưa hết lo. Là một cán bộ hoạt động bí mật
ở Hà Nội, tôi hiểu khá tường tận các đường phố
nên sắp sẵn trong đầu những chỗ sẽ đến, những
phố sẽ đi qua, làm thế nào để đường đi ngắn và
an toàn.
19 giờ ngày 30 Tết, trời tối đen. Cái tối đêm 30.
Trời rét ngọt. Năm Bác cháu lên xe. Xe chạy qua
từng phố vắng vẻ. Cái ồn ào, sôi động của không
khí đón Tết giờ này đã chuyển vào trong từng
ngôi nhà, để lại cho đường phố một vẻ yên tĩnh lạ
thường. Xe dừng lại ở đầu ngõ Hàng Đũa, phố
Sinh Từ. Bác cháu lần mò vào trong ngõ. Đường
mấp mô, có lúc phải bật đèn pin. Tôi đưa Bác vào
một nhà ở cuối ngõ, gọi cửa không thấy tiếng trả
lời. Không cài then, tôi đẩy cửa vào một căn
phòng hẹp lạnh lẽo. Ngọn đèn dầu nhỏ không đủ
soi sáng. Tôi hỏi to:
- Nhà có ai không?
32
Chỉ có tiếng rên từ một chiếc võng tre kê sát
vách. Lại gần thấy một người đắp chiếu đang rên.
Tôi ghé vào đầu giường nói:
- Cụ Hồ đến chúc Tết đấy!
Không thấy tiếng đáp lại, nhưng tiếng rên
không to nữa. Tôi rờ tay lên trán chủ nhà thấy sốt
nóng. Bác bảo kéo chiếu kín cho chủ nhà, rồi Bác
cháu lặng lẽ đi ra, khép kín cửa lại. Ngồi trên xe
Bác nói khẽ như nói với chính mình: "30 Tết mà
không có Tết". Không k...
 





